Hiển thị các bài đăng có nhãn cảm xúc jennifer. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn cảm xúc jennifer. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 27 tháng 11, 2014

NƯỚC MỸ VÀ LỄ TẠ ƠN





Ngày mai dân mỹ sẽ nghỉ lễ Tạ ơn, Hiện có 8 nước theo phong tục này là Argentina, Brazil, Canada, Nhật, Đại Hàn, Liberia, Thụy Sĩ và Hoa Kỳ.



Tương truyền, dân Âu ăn mừng mùa màng bội thu, mừng thắng trận, và đôi khi mừng cả vua hết ốm đau, và gọi đó là Thanksgiving (Tạ ơn).
Người La Mã tổ chức một kỳ lễ hội cho mùa gặt lớn, tên là Cerelia để thờ lạy Ceres với những trò chơi, diễn hành và lễ lạc

Dân Mỹ coi Thanksgiving là ngày đoàn tụ gia đình nên vào tuần cuối tháng 11, dân chúng đi lại như mắc cửi. Giống dân Việt khăn gói quả mướp về quê ăn Tết. Không về đúng ngày Thanksgiving thì chả còn ai cho ăn.



Ngày 26/11/1620, một nhóm Pilgrims từ Âu châu sang Hoa kỳ bằng tàu Mayflower, bao gồm102 người Anh, và khoảng 25-30 thủy thủ do William Bradford chỉ huy. Họ đi khắp nơi nhưng cuối cùng đã cập bên Plymouth, Massachusetts.



Họ tới Plymouth Rock ngày 11 tháng 12 năm 1620. Trong sáu tháng đầu tiên, thời tiết khắc nghiệt, cuộc sống thiếu thốn, bệnh dịch đã làm cho 46 người bị chết. Những người sống sót nhờ ăn thịt gà tây hoang và bắp ngô do người dân da đỏ cung cấp.



Năm 1621 họ bội thu mùa màng nên đã làm lễ Tạ Ơn Trời và Bradford mời cả dân da đỏ tới dự. Có lẽ đó là Thanksgiving đầu tiên tại Hoa Kỳ.



Sau này, lễ Tạ ơn lan rộng nước Mỹ, nhưng mỗi nơi mỗi khác, tùy phong tục của những người di dân nên ngày lễ không đồng nhất.



Khi cuộc chiến giữa các di dân Mỹ và đế quốc Anh xảy, và George Washington thoát khỏi cuộc bao vây ở Valley Forge, ông đã tuyên bố ngày lễ Thanksgiving quốc gia vào ngày 26 tháng 11 năm 1789.



Nước Mỹ chuẩn bị nội chiến, lễ Tạ ơn lại khác nhau. Giống hai miền Nam Bắc thời xưa, Tết Nguyên đán của Hà Nội khác Sài Gòn một ngày, khác cả giờ, cho dù các cụ chửi um vì đưa cả chính trị và lễ đón năm mới của dân tộc .



Sau này Tổng thống Abraham Lincoln định ngày cho lễ này hàng năm vào thứ Năm cuối cùng của tháng 11.



Thứ 5 ăn gà tây, chén no nê. Thứ 6 Black Friday mua sắm thả cửa, thứ 7 và Chủ Nhật nghỉ ngơi, dọn nhà và quay về nơi làm việc. Ngày lễ nào của Mỹ cũng thực dụng, cuối tuần cộng với thứ 7 và Chủ Nhật, thế nào cũng được 3-4 ngày nghỉ liền. Trừ mỗi Quốc khánh Mỹ rơi vào 4-7 thì nghỉ đúng ngày.
Dân Việt trong ngày Tết có bánh chưng, giò chả, pháo, nem, nồi măng rồi đánh chén trong 3 ngày liền.



Dân Mỹ ngày xưa cũng thế. Lễ Tạ ơn cũng kéo dài ba ngày vì cũng phải mời nhau, mời các cụ về, các cụ đi. Có đi có lại mới toại lòng nhau. Tạ ơn các cụ trên mây nhưng dân trần gian ăn nhòe. Khácg đến dự Thanksgiving chỉ đóng góp món ăn nhưng không mang theo quà cáp như dự lễ Xmas.



Món ăn phải có turkey – gà tây quay, một món ăn truyền thống, giống bánh chưng VN. Có bí đỏ vì tương truyền loại quả này đã cứu sống những người hành hương qua mùa lạnh khủng khiếp.



Ngoài ra, còn những món nào khác thì Jennifer chịu. Theo Jennifer biết Thanksgiving của dân Việt, có gà tây, ngan, ngỗng, gà đồi, nhồi mục nhĩ, nấm hương, giò chả, bánh chưng, xôi, chè, rượu tây, rượu ta, đủ kiểu.



Thật lòng, thỉnh thoảng mình vẫn thử món turkey (gà tây), thịt chán vô cùng, ăn như là ăn cỏ. Thịt nhạt, chả có mùi vị gì. Có lẽ mời cao bồi món bánh chưng thì họ cũng cảm thấy thế chăng. Thôi thì mỗi nơi một phong tục


Thứ Ba, 8 tháng 4, 2014

20 CÂU NÓI BẤT HỦ KHI ĐÀN ÔNG MUỐN CHIA TAY




Khi theo đuổi bạn, mỗi chàng có một cách khác nhau. Tôi đã chứng kiến rất nhiều những chuyện tình yêu kiểu đó trong cuộc sống từ những người bên cạnh mình. Song hãy tin tôi đi.... rằng khi cuộc tình qua đi, “kịch bản chia tay” của họ chỉ có… 20 câu bất hủ

VẬY CÁC BẠN NỮ YÊU QUÝ CỦA TÔI, HÃY BƯỚC ĐI VÀ ĐỪNG BAO GIỜ PHẢI QUAY ĐẦU LẠI LUYỄN TIẾC BỚI NHỮNG NGƯỜI NHƯ VẬY. HỌ KHÔNG XỨNG ĐÁNG NHẬN NHỮNG TÌNH CẢM ĐÁNG TRÂN TRỌNG ĐÓ CỦA CÁC BẠN



1. “Anh chưa sẵn sàng cho một mối quan hệ lúc này. Nhưng nếu sẵn sàng, em chắc chắn là người anh chọn”.
Bạn nên hiểu là: “Anh chưa sẵn sàng dành cả cuộc đời còn lại của mình để ngủ với chỉ một người. Nhưng nếu anh sẵn sàng, đó có thể là em”.
2. “Anh vẫn còn quan tâm đến em”.
Bạn nên hiểu là: “… Không đủ quan tâm để hò hẹn với em hay dành nhiều thời gian bên em, nhưng anh vẫn quan tâm!”

3. “Sau tất cả những chuyện này anh vẫn mong chúng mình là bạn và đi chơi với nhau”.
Bạn nên hiểu là: “… sau khi bị anh “đá”, em vẫn có thể giới thiệu cho anh mấy cô bạn nóng bỏng của em chứ?”.

4. “Lúc này đây anh thật sự cần tập trung cho việc học/ công việc/ Chúa… (ngàn lẻ một lý do!)”.
Bạn nên hiểu là: “Anh không nghĩ em có thể chấp nhận dễ chuyện chia tay này, song với những lý do như thế, em chẳng đôi co được đâu”.

5. “Anh sắp ra nước ngoài, nhưng anh sẽ gọi điện cho em ngay khi trở lại”.
Bạn nên hiểu là: “Anh cần phải thoát khỏi em, càng nhanh càng tốt”.

6. “Em tốt hơn anh nhiều…”.
Bạn nên hiểu là: “… Và anh biết anh tốt hơn em nhiều”.

7. “Thật vui vì đã biết em, nhưng anh nghĩ cả hai chúng mình cần dành thời gian bên những người khác nữa”.
Bạn nên hiểu là: “Anh đã gặp được người khác và anh muốn ở bên cô ấy hơn bên em”.

8. “Anh sợ ràng buộc…”.
Bạn nên hiểu là: “Anh sợ phải gắn bó cả đời với em”.

9. “Anh thấy ngột ngạt quá, anh chỉ cần chút yên tĩnh nghỉ ngơi thôi”.
Bạn nên hiểu là: “Em chõ mũi vào cuộc đời anh quá nhiều, đã đến lúc anh phải “mời” em ra”.

10. “Người đàn ông nào cưới được em quả thực rất may mắn”.
Bạn nên hiểu là: “Anh chỉ hy vọng mình không may đến thế!”.

11. “Anh nghĩ chúng mình cần gặp gỡ cả những người khác nữa và xem chuyện gì xảy ra”.
Bạn nên hiểu là: “Anh đã ngủ với người khác, và anh đang nói điều này trước khi em phát hiện ra thôi”.

12. “Anh vẫn muốn bên em, song anh cần nghỉ ngơi đôi chút”
Bạn nên hiểu là: “Anh đang đi tìm bạn tình mới, song vẫn muốn giữ em để “phòng xa”.

13. “Anh có rất nhiều việc phải làm lúc này”.
Bạn nên hiểu là: “Việc chính của anh là không ở bên em nữa”.

14. “Anh cảm thấy, với anh, em giống như một người bạn hơn là một người yêu”.
Bạn nên hiểu là: “Em không còn dễ thương như khi chúng mình bắt đầu hò hẹn nữa”.

15. “Anh cần điều gì đó hơn thế nữa”.
Bạn nên hiểu là: “Anh không biết chắc “cái gì đó” là cái gì, nhưng anh đang thấy nhàm chán”.

16. “Anh chưa quên được người yêu cũ”.
Đây là lý do chân thật nhất đấy!

17. “Ước gì 5 năm nữa mình mới gặp nhau”.
Bạn nên hiểu là: “Lúc này đây anh chưa thực trưởng thành. 5 năm nữa anh sẽ chín chắn hơn và có thể là một người chồng/bạn trai tốt”.

18. “Mình ở hai vị trí hoàn toàn khác nhau trong cuộc sống”.
Bạn nên hiểu là: “Vị trí của anh là “anh muốn ra ngoài uống rượu, tiệc tùng, ngủ lang…” còn vị trí của em là “hãy cùng kết hôn và ổn định cuộc sống”. Hai “vị trí” này không thể gặp nhau được.

19. “Anh rất tôn trọng em…”.
Bạn nên hiểu là: “Đừng nói với bạn bè em rằng anh là một thằng đểu nhé, vì anh còn muốn hẹn hò với vài người trong số họ”.

20. “Anh nghĩ chúng mình quá gần gũi, tiến triển quá nhanh…”.
Bạn nên hiểu là: “Khi em đặt bàn chải đánh răng của em cạnh bàn chải răng của anh trong phòng tắm, anh thật sự thấy hoảng!”.

Thứ Tư, 15 tháng 5, 2013

CHÚT CẢM XÚC CỦA JENNY





Em
như cơn gió thu bay bay nhè nhẹ

Đưa anh đi tìm vần thơ
Qua công viên lá rơi trên con đường về
Bỗng nhiên nghe lòng đan ước mơ
Mơ ôm em trong tay đêm mưa thì thào
Cho bão tố về làm chiêm bao
Mơ yêu em thiết tha như yêu lần đầu
Anh muốn yêu em dài lâu
Em Anh muốn yêu em dài lâu
Em Anh muốn yêu em đậm sâu
Em Anh đã yêu em từ lâu
Em Anh muốn yêu em dài lâu
Yêu em cho đến khi con tim ngừng đập
Cho thiên thu là một giây
Yêu em cho đến khi ong thôi làm mật
Đến khi loài chim quên lối bay
Khi ôm em trong tay anh nghe ngọt ngào
Nếu đời là một giấc chiêm bao
Xin yêu em thiết tha như yêu lần đầu
Anh muốn yêu em dài lâu
Em Anh muốn yêu em dài lâu
Em Anh muốn yêu em đậm sâu
Em Anh đã yêu em từ lâu
Em Anh muốn yêu em dài lâu

Hôm nay xem lai clip đám cưới người bạn, có nghe bài hát này... Lần đầu tiên mình nghe năm 1992 do Thái Tài - Bảo Hân hát...ngày đó mình mới là 1 cô nhóc có mấy tuổi thôi, cho đến giờ nghe lại vẫn thấy có 1 chút thật nhẹ nhàng... thật khó diễn tả được.



Anh muốn yêu em dài lâu - Yêu em cho đến khi con tim ngừng đập". Có lẽ đó là một trong những câu nói mọi phụ nữ đều muốn được nghe và được nghe thật nhiều.


Tình yêu diệu kỳ mang lại biết bao niềm vui, ý thơ và những điều không ngờ tưởng chừng không thể. Người yêu, người được yêu đều có cảm giác thăng hoa ngập tràn trong hạnh phúc với một lăng kính đa màu rực rỡ về thế giới nhân sinh...

Với tình yêu, điều thú vị nào cũng có thể xảy ra. Có khi thiên thu kéo dài chỉ là một giây để được yêu kéo dài đến vô tận. Với tình yêu chỉ khi nào loài chim bay xa quên lối, khi nào loài ong không còn biết tìm mật ngọt và thật sự chỉ có thể dừng đi. Chỉ có thể khi trái tim không còn biết đập những nhịp tình rung động.

Và nhạc sĩ tài hoa Đức Huy, có lẽ ông cũng rất đa cảm, đa tình lắm khi mang đến cảm giác tột cùng của tình yêu đến với người yêu nhạc chỉ qua những đoạn điệp khúc ngắn gọn mà lại ngập tràn yêu thương. Những hình ảnh so sánh như lời hứa hẹn làm người nghe đến khó mà quên:

"Yêu em cho đến khi con tim ngừng đập
Cho thiên thu là một giây
Yêu em cho đến khi ong thôi làm mật
Đến khi loài chim quên lối bay"


Lời ca và giai điệu quả thật vô cùng nhẹ nhàng, cứ như lời thì thầm chỉ có hai người yêu nhau mới nghe được. Cứ như là những cử chỉ dịu dàng lãng mạn của chàng trai dành cho cô gái trong bầu trời đêm mưa thì thào. Nhẹ nhàng thôi, không bi lụy, nhẹ nhàng thôi, không niềm đau. Nhẹ nhàng thôi cho đến tận cùng của cảm xúc mới thấy cái nhẹ nhàng được truyền tải một cách đan xen rất đơn giản, rất bình dị như vậy có phải càng làm lòng người thêm yêu, thêm chìm đắm để cảm nhận được sự rộng lớn,bao la của tình yêu đến như thế nào



Em không cần anh yêu em say đắm, chỉ mong anh thương em chân thành…
Em không cần anh hiểu mọi điều em nói, em chỉ mong anh sẵn sàng nghe em chia sẻ…
Em không cần anh cho em thứ này thứ khác, chỉ mong anh đừng so đo, tính toán sự ngang giá với em…
Em không cần anh bên em sáng tối, gửi tin nhắn hay gọi điện thường xuyên, em mong anh trong một ngày gửi em vài dòng khi anh rảnh, để em biết em luôn ở đâu đó trong anh…

Em không cần anh đặt em vào vị trí số 1, em chỉ mong nếu có lựa chọn, anh hãy cho em được có trong những điều anh cân nhắc…
Em không cần anh ngọt ngào thơ văn, em chỉ mong mọi điều anh nói đều là đi từ con tim mình…
Em không cần anh làm em vui, chỉ mong anh đừng khiến em buồn…
Em không cần anh dẫn em đi khắp nơi và rêu rao đây là bạn gái anh, em chỉ mong, nếu ai đó hỏi, anh sẵn sàng nói rõ: “Ừ, cô ấy là người tôi yêu.”

Em không cần anh tỉ tê tâm sự với em mọi điều, em mong, lúc anh mệt, lúc anh nản lòng, hãy tìm đến em…và cho em được là người an ủi …
Em không cần anh nói yêu em hàng ngày, em chỉ mong, lúc em mềm lòng, lúc em yếu đuối hoài nghi, anh nói tiếng yêu cho em mạnh mẽ…
Những điều em không cần, không phải là những điều em không muốn.
Em không cần vì em biết chúng chẳng để làm gì giữa anh và em.

Còn những điều em mong, chính là điều em muốn. Anh hãy sống cuộc sống của anh, cho thật trọn vẹn và hết mình, em không yêu anh rồi đòi hỏi anh phải như ý em thích, và em không bước vào cuộc sống của anh để đòi một vị trí đỉnh cao của sự quan tâm hay săn đón

Em đi bên anh, đi cùng anh, để lắng nghe, để chia sẻ, để cùng vui và cùng buồn. Để cùng mơ ước và để cùng cố gắng.

Yêu là nhận ra con người mình từ chính đối phương.

Yêu là để giúp nhau hoàn thiện và sống tốt.
 
Vậy nên anh à, hãy cứ xem em là người em, người bạn, người anh thương, rồi mới là người anh yêu. Cứ vậy đi nhé.

Anh có biết: “Một tình yêu đích thực phải chứa đựng tình thương, phải có thái độ muôn hiến tặng và chia sớt để nâng đỡ cuộc đời nhau…”

Thứ Hai, 24 tháng 12, 2012

8 SỰ LỰA CHỌN CUỘC SỐNG


(Lại béo lên rồi)
Trong cuộc đời, không ít lần bạn phải đứng trước những lựa chọn. Chỉ cần một quyết định sai lầm, có thể cả quãng đời còn lại của bạn sẽ phải thay đổi. Vì thế, hãy làm chủ cuộc sống của mình, đừng nóng vội để không phải hối tiếc về sau.

1. Chọn người yêu: Với nhiều người, người yêu chính là động lực giúp họ vượt qua khó khăn, thử thách trong cuộc sống. Tuy nhiên, một số người cho rằng có bạn trai là để bằng với thiên hạ, hoặc chỉ để lấp đi khoảng “trống vắng” trong lòng.

Thế là, họ chọn một người tạm gọi là “được được” và lao vào yêu. Thông thường, kết quả không như mong đợi. Bạn mất nhiều thời gian để thoát khỏi đau khổ, thậm chí không thể đứng dậy sau những va vấp.

2. Cách chọn bạn đời: Sẽ không có gì nếu cả hai yêu nhau và đi đến hôn nhân. Nhưng vì lý do nào đó, bạn kết hôn với người mình không yêu. Nếu không có sự cảm thông, chia sẻ, dễ dẫn đến bất đồng về quan điểm, cách sống.

Trường hợp lấy phải chồng vũ phu, cuộc sống bạn sẽ như địa ngục trần gian. Bạn khó dứt ra vì trách nhiệm, vì dư luận xã hội… Kéo dài tình trạng này, bạn phải ôm khổ một đời.

3. Chọn nghề: Bạn theo học một trường vì sở thích, hợp khả năng hay do mong muốn của bố mẹ? Việc này ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của bạn đấy!

Nếu quá trình học không mang lại hứng thú, bạn chán nản và kết quả học tập sẽ giảm sút. Khi ra trường, bạn không đủ năng lực để tìm một công việc tốt. Bạn dễ gặp thất bại. Lúc này, con đường tương lai của bạn sẽ rẽ sang một hướng hoàn toàn khác.

4. Bạn thân: Là người hiểu và chia sẻ với bạn những vui buồn. Nhưng nếu đặt niềm tin nhầm chỗ, họ có thể quay lưng khi bạn gặp thất bại, đau khổ. Thậm chí, họ bán đứng bạn vì lợi ích cá nhân.

Khi ấy, bạn sẽ thấy hụt hẫng, sống vô cảm và khép kín hơn. Bạn nghi ngờ sự chân thành và lòng tốt của mọi người. Rất khó để bạn cân bằng lại cuộc sống.

5. Chọn cách quan tâm: Bạn muốn con học một ngành, nghề mà bạn thích và con bạn không thể đáp ứng được sự kỳ vọng đó.

Bạn bực bội, cáu gắt, xem con như đồ bỏ đi. Con bạn sẽ buồn nản, không làm được gì vì nghĩ mình vô dụng. Vì vậy, cách bạn thể hiện sự quan tâm đối với người khác rất ảnh hưởng đến cuộc sống của họ và cả bạn.

6. Chọn sự nghiệp trên gia đình: Bạn nghĩ có tiền là có tất cả. Bạn lao vào làm ăn, không quan tâm chăm sóc gia đình.

Khi bố mẹ mất, con cái hư hỏng, bạn mới nhận ra mình đã đánh mất nhiều thứ quan trọng. Đôi khi, sự lựa chọn sai lầm sẽ làm bạn day dứt suốt quãng đời còn lại.

7. Chọn thời điểm con ra đời: Khi chưa muốn có con mà bị vỡ kế hoạch, bạn đành phải sinh em bé. Bao nhiêu dự tính quan trọng cho tương lai bị gác lại. Có người còn bỏ cả sự nghiệp, về an phận làm mẹ, làm vợ.

Khi chưa chuẩn bị kinh tế đầy đủ để đón con chào đời, gia đình bạn sẽ gặp không ít khó khăn, dễ dẫn đến mâu thuẫn.

Cuộc sống vì thế có thể sẽ thay đổi nếu bạn có một quyết định không sáng suốt.

8. Cách giải trí thư giãn: Khi buồn, người ta dễ có những hành động không màng đến hậu quả. Họ có thể tìm đến thuốc lá, bia rượu hoặc ma túy, thuốc lắc.

Không những khi buồn mà cả lúc vui, có người cũng lao vào các kiểu giải trí này. Họ cứ trượt dài trong sa đọa, đến lúc muốn quay lại với cuộc sống bình thường cũng không thể

NHÌN VÀO NĂM 2013

Chỉ mươi hôm nữa phải thay lịch. Người người lo đón Noel xong, người lo chuyện Tết Tây nghỉ những 4 ngày, thị dân thì lo vật giá trượt ầm ào, nông dân sợ không có gì để ăn Tết...

Trên Chính phủ cứ lòng vòng tự trọng với tự sướng, Nhà nước tìm những lời có cánh và Đảng quay qua trách cứ trẻ con vô tâm. Ngân hàng, Chứng khoán, Bất động sản,… kéo nhau đổ như trò chơi domino. Thử nhìn vào năm tới – 2013 và dự đoán cái gì sẽ đến.

1. Trung Cộng sẽ làm gì ở biển Đông của ta:
Động thái quân sự hóa Ngư chính và Hải giám sẽ hỗ trợ cho việc xét tàu vào vùng lưỡi bò (do chúng vẽ ra) kể từ 01-01-2013, nhưng việc chính lại là bảo đảm cho việc thực thi tuyên bố không phận của cái gọi là Tam Sa bất hợp pháp sắp sửa ra đời. Như vậy, trên biển Đông ngư dân ta hết cơ hội tìm đất sống ngay trên ngư trường của tổ tiên bao đời. Tiếp đó toàn bộ vùng Trường Sa do Hải quân của ta trú đóng sẽ bị cô lập, thiếu thức ăn và nhu yếu phẩm,…

Công cuộc xây dựng căn cứ quân sự Tam Sa của Trung Cộng, xây kho nhiên liệu tại Hoàng Sa của ta và các cuộc diễn tập vượt rào, bắn thi, bắn đạn thật của bộ binh; tập bắn đêm của không quân; hợp đồng tác chiến với hải quân trên biển Đông cả tháng qua, đồng thời cũng là dịp chuyển quân, bố trí lực lượng,… chính là điều mà Tập Cân Bình mong muốn khởi đầu “cơ nghiệp quân vương” của mình khi xuất hành thăm Quảng Châu và Hải Nam: Bất ngờ dùng vũ lực bao vây và chiếm lĩnh toàn bộ các đảo cũng như bãi đá trong vùng nước nội thuộc đường 9 đoạn.

Sử dụng bài ruột cây roi và củ cà rốt, Trung Cộng đã xúc tác làm rệu rã khối ASEAN, lợi dụng tình trạng kinh tế đang suy thoái của Mỹ, Nhật Bản,… đồng thời tăng khả năng gây sự trên vùng Kashmir để kiềm chế Ấn Độ (Trong lúc Nga đã là đối tác chiến lược của Trung Cộng) thì thời cơ trong vòng nửa tháng – từ tuần cuối năm đến hết tuần đầu năm mới – đã chín muồi để “thu hồi lãnh thổ”, thực chất là ăn cướp nhằm thực hiện “giấc mơ Trung Hoa” mà Hồ Cẩm Đào mong muốn trở thành cường quốc biển. Thời đoạn này các nước đồng minh cố cựu là Nhật và Hàn cũng đang bận lo việc củng cố nội các mới cùng với nước Mỹ đàn anh. Khối EU đang đối mặt với mùa đông kinh tế ảm đạm với dự kiến còn suy trầm cho đến 2015.

“Chuỗi ngọc trai” của Trung Cộng đã và đang xây dựng trải dài từ Maldive ngoài Ấn Độ Dương qua Srilanca vào tận nút cổ chai eo biển Malaca là Myanma nhằm bảo đảm cho việc vận chuyển nhiên liệu lâu dài về Bắc Kinh, đã khiến Ấn Độ và những nước ASEAN phải sớm ngổi lại với nhau bàn cách đối phó. Việt Nam muốn xây dựng đối tác chiến lược với Ấn Độ nhưng có vẻ không còn kịp nữa. Trung Cộng đã gián tiếp gây hoãn cuộc họp của 4 nước có tranh chấp biển đảo với họ trong những ngày gần đây là một ví dụ.

Trung Cộng đang hung hăng thực hiện kế hoạch “ngoại giao pháo hạm” đúng như kịch bản của Mỹ trước đây khi vươn lên mức siêu cường: Phủ sóng lên toàn Trung Mỹ và Nam Mỹ để xây dựng một sân sau vững chãi. Địa chính trị của Việt Nam với Trung Cộng hiện nay không khác gì Mỹ với Mexico thời ấy. Trong khi Mỹ tuyên bố tăng cường binh lực về Thái Bình Dương, xây dựng tam giác Đông Bắc Á, chọc vào Myanma,… nhưng tuyên bố không can dự gì vào các vụ việc tranh chấp biển đảo của các nước liên quan đến Trung Cộng, đúng với cam kết từ 1972: ta không đụng đến người thì người cũng không động đến ta.

Cuộc phân chia miếng bánh toàn cầu đã rõ như ban ngày. Mỹ mong muốn Trung Cộng hòa điệu vào kinh tế thế giới và phải bắt đầu gánh vác trách nhiệm siêu cường với cộng đồng quốc tế. Trung Cộng hiển nhiên đề kháng lại sự hòa nhập kinh tế chính trị theo truyền thống dân chủ Âu-Mỹ và muốn thiết lập trật tự thế giới mới theo xu thế riêng của mình: dùng đồng Nhân dân tệ khuynh loát tất cả. Người Hoa hải ngoại và đạo quân thứ 5 là những vọng gác tiền tiêu, là những mũi nhọn tiến quân thực hiện kế sách này.

Do đó, cuộc “cất vó” của Trung Cộng ở biển Đông tạo “cửa mở” xuống phía Nam lần này không loại trừ đảo Ba Bình mà Đài Loan đã cưỡng chiếm của ta ở vùng biển Trường Sa, trước nhất là thử thách thái độ của Mỹ và dập tắt mong muốn Mỹ bán vũ khí và trang cụ kiểm soát biển cho Đài Loan mà Mỹ lừng khừng không thể thực hiện từ bao lâu nay.

Như vậy , nếu kịch bản đánh chiếm hoàn thành, Trung Cộng sẽ thách thức toàn cầu và Việt Nam chính là nước chịu sự tổn thất ghê gớm nhất – trước khi Việt Nam kịp trang bị đủ thực lực khả dĩ tự vệ; Nga chưa vào Cam Ranh vì cam kết “tốt vàng” của “hai Đảng”; Mỹ chưa chịu bán vũ khí tấn công chiến lược vì chậm “cải thiện nhân quyền”; Ấn Độ hùng hổ tuyên bố nhưng chưa động binh,… – là mất trọn vẹn biển Đông.

2. Việt Nam chúng ta đang ở đâu và sẽ đi đến đâu trên tiến trình lịch sử:
Môn địa lý dạy cho ta biết mình đang ở đâu và địa chính trị, địa kinh tế - văn hóa,… cho thấy vai trò vị trí của đất nước trong khu vực cũng như trên thế giới. Thế nhưng, Việt Nam đang tự đưa mình vào thế cô lập, không có đồng minh, khi các nước “anh em” thân thiết đang bị siết vào vòng kim cô phiên thuộc của ông lân quốc cựu thù truyền kiếp. Ông mảnh này đang dương gọng há mồm vơ cả phương Nam vào âm mưu đại bá mà các ông chủ nhỏ đang ngoan ngoãn tuân phục – siết cổ bất kể thần dân nào dám động đến dù chỉ sợi lông chân ông “bạn vàng”.

Môn sử học cũng dạy chúng ta ôn cố tri tân để biết được mình đang đi đến đâu và phải ứng xử hợp thời thế như thế nào với mọi người cũng tương tự như quốc gia với cộng đồng quốc tế. Thì ta đang thụt lùi về tất cả các mặt, trong lúc những nước trước đây vốn không hơn gì chúng ta mà chỉ mấy chục năm đã hóa rồng như Hàn, Mã hay Thái. Vì sao? Không thể nói gì khác hơn là do cuộc thử nghiệm xã hội chủ nghĩa trên toàn quốc thất bại đã phá hoại mọi tiềm lực của đất nước, của dân tộc.

Những ngày tới, tàu biển của ta sẽ phải đi vòng quanh “lưỡi bò”, nếu không chịu nhượng bộ thêm và sẽ thêm nữa. Còn đường bay quốc nội và quốc tế, chiếm hơn phân nửa số phi vụ bay vào “không phận Tam Sa” sẽ bay như thế nào ?

Hồ Chí Minh khi kêu gọi toàn quốc kháng chiến đã tóm gọn lại một quy luật:… ta càng nhân nhượng địch/ giặc càng lấn tới,… Thử hỏi chúng ta còn phải làm gì?
Dân đang rất nghèo khi sự phân cực giàu nghèo ngày càng cách biệt. Tiềm lực quốc gia đang cạn kiệt, các bộ ngành đang ra sức tận thu tận vét những đồng chinh tiết kiệm của đại bộ phận dân chúng vào kế sách nuôi bộ máy vốn kém hữu hiệu để thể chế tồn tại.
Chỉ có thể, một lần duy nhất và càng sớm càng tốt, những ai đó đang đại diện quốc gia nếu còn có chút lòng thành – nên long trọng tuyên bố: Nước chúng tôi từ bỏ những con đường không gắn bó được với độc lập dân tộc. Ngay lập tức, Việt Nam ta sẽ thêm bạn bớt thù, sẽ vững bước trên con đường độc lập tự do mà 3 thế hệ liền đã đổi cả xương máu để có được. Lúc ấy cũng sẽ có mọi nguồn lực đáng kể giúp cứu nguy cho đất nước – trong tinh thần hòa giải hòa hợp dân tộc mà bao lâu nay chúng ta chưa có được.

TRẢ LỜI ANH TUẤN HÙNG - TẠI SAO CÓ VỰC THẲM TÀI CHÍNH


Nước Mỹ đang đứng trên bờ vực. Ít nhất đó là lời các nhà chính trị Mỹ đã nói trong suốt một tháng qua, sau khi họ phải tạm ngưng nói vì mùa tranh cử đã chấm dứt. Ðúng ra, họ chưa bao giờ ngưng nói, chỉ bớt nói mà thôi. Công việc quan trọng nhất của các chính trị gia là nói, nếu không nói gì thì ai biết mà bỏ phiếu cho mình? Cho nên, khi hết chuyện tranh cử, người ta phải nói đến chuyện bờ vực, cả nước Mỹ đang đứng trên bờ vực. Ai cũng phải lắng nghe.

Các nhà báo Mỹ tất nhiên phải thuật lại những lời tuyên bố này. Các báo, đài phát thanh và ti vi không ngớt nói về cái vực thẳm đang chờ đón 300 triệu con dân nước Mỹ rớt xuống. Trong khi đó, đại đa số dân Mỹ vẫn làm như không hay biết gì cả. Họ vẫn lái xe ào ào trên xa lộ mà số tai nạn không tăng. Họ vẫn vào sở cắm cúi “đi cày,” cuối tuần vẫn ngồi uống la de coi các trận đấu bóng bầu dục, hay đi mua sắm quà Giáng Sinh cho gia đình. Ai tính làm đám cưới cứ tiếp tục đặt tiệc, ai tính ly dị cứ tiếp tục bàn chuyện với luật sư. Tại sao dân Mỹ dửng dưng, bình chân như vại thế?

Bởi vì cái bờ vực thẳm là do các nhà chính trị tạo ra. Họ đào hố trong mấy năm nay, mỗi năm hố lại sâu hơn. Nước Mỹ đứng trước cái vực thẳm tài chánh năm 2012, là vì từ năm 2010 các nhà chính trị không giải quyết ngay các vấn đề quan trọng về ngân sách, cứ khất lần khất lữa với nhau. Mỗi lần trì hoãn như vậy, họ vẽ ra một cái vực thẳm để dọa nhau: Nếu trong một năm nữa mà không giải quyết thì cả lũ sẽ lăn xuống vực hết! Nhưng dân Mỹ không ngu. Họ biết cái hố thẳm do các nhà chính trị tự đào lấy thì chính họ sẽ tìm cách nhảy qua chứ không ai lại dại dột để cả nước rớt xuống hố.

Cái vực thẳm vào đầu tháng 12 năm 2012 có thể mô tả như sau: Nếu đến cuối năm nay mà Quốc Hội Mỹ với Tòa Bạch Ốc không thỏa thuận được làm một đạo luật mới về ngân sách, thì sang đầu năm 2013 hầu hết dân Mỹ sẽ bị tăng thuế; và một phần ngân sách chính phủ sẽ bị cắt không thương tiếc.

Hậu quả là: Dân lo đóng thuế sẽ bớt tiêu tiền. Nhà nước cũng không có tiền xài nhiều như trước. Tổng cộng, số tiền lên tới 600 tỷ đô la. Một số tiền lớn như vậy bị rút ra khỏi nền kinh tế, thì kinh tế sẽ sụm. Người dân bớt tiêu thụ thì các xí nghiệp phải bớt việc làm, lại thêm nhiều người thất nghiệp. Chính phủ bớt tiền tiêu thì các công ty cung cấp cho chính phủ cũng phải bớt hoạt động. Kinh tế sẽ suy thoái, tức là Tổng Sản Lượng Nội Ðịa (GDP) trong năm 2013 có thể chỉ giảm đi; tỷ lệ thất nghiệp sẽ tăng. Ðó là vực thẳm. Dưới vực có hai phần, vừa tăng thuế vừa giảm chi ngân sách. Tại sao có cái vực thẳm này?

Hãy nói về thuế trước, câu chuyện bắt đầu với những đạo luật cắt giảm thuế của cựu Tổng Thống George W. Bush từ năm 2001. Từ năm trước đó chính phủ Mỹ dư tiền xài, gọi là thặng dư ngân sách. Bèn làm luật mới, giảm suất thuế phải đóng cho tất cả mọi mức lương và lợi tức. Từ năm 2002 đến 2009, số thuế chính phủ Mỹ thu vào giảm bớt khoảng 1,800 tỷ đô la. Vì vậy, đưa tới tình trạng ngân sách khiếm hụt và nhà nước phải đi vay thêm nợ, để bù vào. Các đạo luật giảm thuế của Tổng Thống Bush lại ấn định đến hết năm 2010 sẽ hết hiệu lực. Tức là nếu luật không được triển hạn thì từ năm 2011 mọi người sẽ trở lại đóng thuế lợi tức cao hơn, như dưới thời cựu Tổng Thống Bill Clinton.

Trong năm 2010, ai cũng bàn chuyện phải làm gì với thời hạn đó. Bởi vì không ai muốn sang năm 2011 toàn dân bị tăng thuế lợi tức. Cả năm 2010, hai đảng không thể đồng ý với nhau phải làm gì để tránh cảnh tăng thuế. Ðảng Cộng Hòa muốn triển hạn tất cả các đạo luật cắt thuế. Ðảng Dân Chủ lúc đó vẫn chiếm đa số ở Hạ Viện nhưng không chịu cho các người có lợi tức cao được giảm thuế như ông Bush đã cho.

Ðầu tháng 12 năm đó, các đại biểu đảng Dân Chủ trong Hạ Viện, mới thua to và biết sang năm 2011 họ sẽ thành thiểu số; đã làm một dự luật, giữ nguyên luật cắt thuế của Tổng Thống Bush, trừ những người có lợi tức 250,000 đô la một năm trở lên; rồi nâng lên mức một triệu đô la. Khi lên Thượng Viện, dự luật này không được bỏ phiếu; vì các nghị sĩ Cộng Hòa phản đối, phe ủng hộ không đủ 60 phiếu để gạt qua.

Cuối cùng, hai bên thỏa hiệp: Triển hạn các đạo luật cắt thuế của ông Bush, nhưng chỉ cho thêm hai năm. Ðảng Dân Chủ cũng yêu cầu được thêm khoản giảm bớt 2% trên thuế khấu trừ khi lãnh lương để góp vào quỹ hưu bổng. Ðiều này bớt cho những người đang đi làm tổng cộng 120 tỷ đô la thuế. Một số gia đình “khó khăn” cũng được giảm thêm thuế, tổng cộng 40 tỷ nữa. Các xí nghiệp mua máy móc thiết bị sẽ được khai bớt 100% trong lợi nhuận trước khi đóng thuế. Ngoài ra, cũng kéo dài thời gian trợ cấp cho những người thất nghiệp được lãnh lâu hơn, tốn 56 tỷ đô la nữa. Tất cả các khoản ân huệ này cũng được ấn định hết hiệu lực vào ngày 31 tháng 12 năm nay; nếu không làm luật gia hạn thì các xí nghiệp và người đi làm đều đóng thêm thuế.

Ðó là một phần, phần thuế trong cái vực thẳm tài chánh mà chính phủ liên bang đang phải đối đầu. Lý do chỉ vì trong năm 2010 các chính trị gia đã không thỏa hiệp được về các luật cắt thuế của Tổng Thống Bush. Họ hoãn lại hai năm, để vấn đề này thành một đề tài tranh cử năm nay. Ngoài ra, họ còn đèo thêm mấy món ân huệ khác, và cho cùng hết hạn một ngày. Nếu đến cuối năm 2012 mà hai bên không thỏa hiệp được, thì sang năm 2013 tất cả mọi người sẽ phải đóng thuế nhiều hơn. Mọi người đi làm sẽ phải đóng thêm 2% lương của mình vào quỹ hưu bổng. Một gia đình lương 50,000 đô la một năm sẽ phải đóng thêm 2,000 đô la thuế; những người thất nghiệp lâu sẽ mất trợ cấp.

Phần thứ hai của cái vực thẳm tài chánh cũng do Quốc Hội Mỹ gây ra trong năm 2011, với sự đồng lõa của Tòa Bạch Ốc. Nguyên nhân là họ dùng một thủ tục gọi là “Sequestration” trong tiếng Anh. Trong tự điển kinh tế chữ Hán người ta dịch là “Khấu chấp,” ở Ðài Loan và trong lục địa đều dịch như vậy. Sequestration vốn thường dùng trong luật lệ thương mại, là hành động cầm giữ một tài sản của một con nợ chẳng hạn, để chờ khi nợ được thanh toán thì mới thả cho tự do bán hay cầm thế tài sản bị khấu chấp. Quốc Hội Mỹ đã dùng chữ Sequestration lần đầu vào năm 1985, khi biểu quyết một đạo luật nhắm mục đích giảm bớt khiếm hụt ngân sách, thời Tổng Thống Reagan.

Thủ tục “Khấu chấp” áp dụng nếu Quốc Hội ấn định một mức chi tiêu tổng quát về ngân sách xong rồi; nhưng khi biểu quyết các khoản chi tiêu nhỏ trong ngân sách thì cộng lại thấy tổng số cao hơn con số đã được ấn định. Thí dụ, Quốc Hội ấn định tổng cộng ngân sách là 80 đồng; nhưng cộng lại các khoản chi đã quyết định thì thấy lên tới 100 đồng. Khi đó, nếu các đại biểu không thể đồng ý với nhau nên cắt bớt phần chi nào, thì ngân sách sẽ tự động bị “khấu chấp,” tức tất cả các khoản chi cùng bị giảm 20% như nhau. Nhưng có những khoản chi bắt buộc không thể giảm, thí dụ lương bổng của quân đội, công chức, số tiền phải trả các nhà thầu đã ký hợp đồng dài hạn với nhà nước, vân vân.

Các món chi đó không giảm được, thì phải giảm các món khác. Hậu quả là nhiều bộ và cơ quan trong chính phủ sẽ bị cắt giảm nhiều hơn 20%. Ðây là một thủ tục buộc các đại biểu Quốc Hội phải đắn đo khi biểu quyết ngân sách. May mắn là Quốc Hội Mỹ vốn rất linh động; mà họ không sợ chi tiêu tiền do dân đóng thuế; cho nên họ thường biểu quyết nâng mức trần của ngân sách lên cho phù hợp với thực tế! Lối làm việc linh động này là một nguyên nhân khiến ngân sách ngày càng khiếm hụt hơn, chính phủ phải vay nợ nhiều hơn!

Vụ khấu chấp đưa tới bờ vực thẳm tài chánh năm nay là do Quốc Hội và hành pháp cùng đồng ý đặt một trái “bom nổ chậm” trong một luật ngân sách năm 2011. Năm đó, chính phủ phải vay thêm nợ, muốn vậy phải xin Quốc Hội cho nâng “trần nợ,” tức là khoản tối đa tổng số các món nợ công của liên bang. Ðảng Cộng Hòa lúc đó đang kiểm soát Hạ Viện đã đòi chính phủ Obama phải cắt bớt chi tiêu, nếu không họ từ chối nâng trần nợ. Sau cùng, hai bên thỏa hiệp cho nâng trần nợ lên, đi đôi với những khoản cắt giảm chi tiêu trong một năm. Ðạo luật còn ấn định nếu đến cuối năm 2011 mà không thỏa hiệp một giải pháp dài hạn thì sang năm 2013, tất cả ngân sách chính phủ Mỹ bị “sequester,” bị khấu chấp, tức là sẽ bị cắt tự động! Số tiền phải cắt trong ngân sách quốc phòng sẽ chiếm một nửa tổng số bị cắt giảm!

Khi hai đảng thỏa hiệp về đạo luật trên vào năm 2011, mỗi bên đều nghĩ mình khôn, vì sẽ bắt ép được bên kia nhượng bộ khi ngồi lại bàn chuyện đứng đắn. Phía Dân Chủ nghĩ là bên Cộng Hòa sẽ không đời nào để cho ngân sách quốc phòng bị cắt tự động như vậy. Bên Cộng Hòa thì đoán phía Dân Chủ sẽ lo lắng về các khoản chi tiêu như xã hội, giáo dục, y tế sẽ bị cắt, cho nên thế nào họ cũng phải nhượng bộ. Bây giờ là thời điểm hai bên phải tìm cách thỏa hiệp, để giải quyết vấn đề thu và chi của chính phủ liên bang Mỹ. Và họ còn đang tranh luận công khai trên báo, trên đài. Bên nào cũng đem cái vực thẳm tài chánh công chi ra dọa lẫn nhau.

Nghe nói đến vực thẳm thì kinh thật. Nhưng chắc dân Mỹ không lo sẽ bị rớt hết xuống hố. Từ nay đến ngày 31 tháng 12 thế nào các nhà chính trị cũng tìm ra cách thỏa hiệp để quả bom nổ chậm không phát nổ; dân Mỹ chắc sẽ không phải đóng thêm thuế. Họ sẽ thỏa hiệp thế nào, chưa biết được. Nếu nhìn và quá khứ để dự tính tương lai thì có thể đoán là họ sẽ lại đi tới một thỏa hiệp ngắn hạn, giống hệt những năm 2010 và 2011. Họ sẽ làm một đạo luật triển hạn các đạo cắt thuế thời Tổng Thống Bush, nhưng trong 6 tháng hay một năm thôi; rồi giảm bớt công chi chút chút, cũng chỉ trong một thời hạn ngắn thôi. Sau đó, đạo luật mới sẽ yêu cầu Quốc Hội phải cải tổ luật thuế vụ để tăng số thu trong ngân sách, ấn định thời hạn trong một năm phải làm xong. Thế là trong năm 2013, dân chúng Mỹ còn được nghe các nhà chính trị tranh luận về thuế (tăng thu) và các chương trình xã hội như hưu bổng, y tế (giảm chi) suốt ngày suốt đêm, thêm một lần nữa.

Như vậy dân có phí thời giờ quá vì phải nghe các nhà chính trị tranh cãi hay không?

Thử tưởng tượng, nếu có một cách biểu quyết ngân sách khác thì ra sao. Thí dụ, có những nước mà tất cả các khoản thu và chi của chính phủ đều được một nhóm 15, 17 người họp kín với nhau bàn luận rồi quyết định. Dân chúng không phải nghe mà cũng không được hỏi. Bởi vì tất cả đều do đảng lãnh đạo cả. Nếu được chọn giữa hai phương pháp quyết định việc nước như vậy, liệu quý vị chọn lối tự do dân chủ hay theo lối độc tài đảng trị

BỨC TRANH VỀ NƯỚC MỸ


Khoảng năm 2003, lúc đó tôi còn là sinh viên, trong lúc tìm kiếm tài liệu học thì mình tình cờ bắt gặp một bức ảnh được bộ ngoại giao Mỹ bình chọn là hình ảnh đặc trưng có thể nói lên được đặc điểm của nước Mỹ. Bạn có biết bức ảnh đó như thế nào?
Đó không phải là bức ảnh quen thuộc về tượng Nữ Thần Tự Do.
Đó không phải là bức ảnh sừng sững của Empire State Building.
Đó không phải là bức ảnh nguy nga của tòa Bạch Ốc.
Đó không phải là bức ảnh đặc sắc của Disney Land.
Đó không phải là bức ảnh lộng lẫy của Cầu Cổng Vàng.
Và đó cũng không phải là tượng đài Abraham Lincoln, nghĩa trang Arlington, hay Vườn Quốc Gia Red Wood.
Một bức ảnh để nói lên đặc điểm riêng của nước Mỹ không thể nào là một bức ảnh mô tả riêng biệt về tinh thần, vật chất, quyền lực, văn minh, hay là hứa hẹn - hoặc bất cứ một điều gì khác có tính biểu tượng đơn độc.
Bức ảnh mà bộ ngoại giao đã chọn làm hình ảnh đặc trưng cho nước Mỹ thật đơn giản. Bức ảnh mang tênThe Difference - Sự Khác Biệt. Hình ảnh trên bức ảnh là bên một góc bờ hồ nhỏ trong một ngày đẹp trời. Tâm điểm của bức ảnh là hình ảnh dưới nước có một chú thiên nga xinh đẹp, to xác, trắng trẻo với chiếc cổ quặp xuống, đang bơi êm ả về một phía; còn trên bờ thì là một chú vịt bầu xấu xí, nhỏ con, đen đủi, ngẫn cao đầu, đang bước thản nhiên qua chiều ngược lại.
Tuy nhiên, dù có sự khác biệt hoàn toàn trái ngược nhau như thế nhưng cả hai chú đều có thể sống với nhau một cách thỏa mái trong cùng một môi trường chung. Mỗi chú đều có quyền tự do để sống theo ý muốn của mình mà không phụ thuộc hay xâm phạm đến quyền sống của nhau . Hình ảnh đó thật đẹp và cho ta cảm giác thỏa mái, nhưng nó sẽ không còn đẹp và thỏa mái nữa nếu chú vịt bầu bắt chú thiên nga phải có màu lông đen cho giống hệt như mình, hay là ngược lại.\

Hình ảnh của nước Mỹ cũng là hình ảnh được thu gọn bên bờ hồ trong bức ảnh ấy.
Và nếu ai đó có quên đi hoặc hỏi tại sao, thì họ sẽ được biết đến câu trả lời:
- Bởi vì đây là miền đất cưu mang dòng máu của mọi giống nòi, mọi sắc dân, mọi màu da, mọi ngôn ngữ, mọi nền văn hóa - những con người đến từ khắp mọi nơi trên thế giới.

- Bởi vì đây là miền đất dung thân cho hàng hàng lớp lớp thế hệ những kiếp người đốn mạt từng bị áp bức, bị đối xử tàn tệ, bị xua đuổi, bị giết hại, bị phân biệt, những con người đói rách, thất học, và nghèo nàn.

- Bởi vì những con người ấy và con cháu của họ đã trốn chạy đến đây để gầy dựng nên được một quốc gia làm nơi trú thân cho những cuộc đời hoạn nạn, đại diện cho tiếng nói và phẩm giá của họ - tiếng nói của tự do và phẩm giá của quyền con người.

- Bởi vì miền đất ấy bây giờ đã là một siêu cường giàu có, văn minh và hùng mạnh nhất. Mọi sự đã đổi thay nhưng có một điều không bao giờ thay đổi -- đất nước ấy vẫn luôn luôn đón nhận những con người bị xua đuổi và bị bạc đãi khắp nơi -- đất nước ấy không bao giờ khinh khi và bỏ rơi những số phận nghèo hèn. Xuyên suốt lịch sử qua bao thế hệ, đất nước ấy đã nói rằng: những con người từng chịu bất hạnh nhất họ đã trở thành chủ nhân của một đất nước danh giá nhất, và họ rất xứng đáng được điều đó.

- Bởi vì đây là nước Mỹ, không là của riêng ai. Nó chính là kẻ thù lớn nhất của tất cả những kẻ thích độc tài và dối trá, là bạn của tất cả những con người yêu tự do và sự thật.
Giàu có từ nghèo hèn, vinh quang từ tủi nhục, kiêu hãnh từ nỗi đắng cay. Nước Mỹ có được gọi là thành công hay không?
...!!!
Hãy nói về một điều quan trọng hơn là đất nước này đã trở thành nơi cư trú tốt cho những con người yêu chuộng tự do và khao khát quyền sống. Và tất cả những gì thuộc về nước Mỹ ngày nay cũng bắt nguồn từ những giá trị căn bản ấy.

Những con người đầy khác biệt từ màu da đến ngôn ngữ, từ văn hóa đến vóc dáng tụ về từ khắp nơi mà có thể chung sống bên nhau và xây dựng một đất nước hùng mạnh, vì sao?

Câu trả lời đúng nhất là vì họ yêu tự do, họ tôn trọng quyền sống và họ thừa nhận sự khác biệt của nhau. Họ cũng là một khối đoàn kết nhất bởi đoàn kết không bị hiểu sai là phải giống hệt nhau, đoàn kết có ý nghĩa là tôn trọng và thừa nhận giá trị riêng của nhau.

Cũng như bên bờ hồ, chú vịt và chú thiên nga có thể sống tốt bên nhau bởi vì hai chú đã thừa nhận sự khác biệt của nhau và tôn trọng quyền sống của nhau. Và chắc chắn các chú cũng sẵn sàng đón nhận những loài cùng giống chim mới đến cư trú với mình trên bờ hồ.

Khi thừa nhận sự tồn tại của khác biệt và tôn trọng quyền sống lẫn nhau, khung cảnh sống của bờ hồ trở nên sinh động và đầy màu sắc. Nhưng nếu có sự áp đặt và ức hiếp của một loài, khung cảnh ấy chắn chắn sẽ trở nên đầy đe dọa buộc nhiều loài khác phải tung cánh bay xa.

Cũng như trên nhiều nơi khắp thế giới, con người đã phải chạy trốn trước những kẻ độc tài và tai họa, để tìm đến những miền đất tự do và an lành hơn. Riêng nước Mỹ thì đón nhận tất cả, kể cả những con người có quá khứ khốn khổ và tăm tối nhất để trao cho họ hy vọng vào một tương lai bình yên và tươi sáng hơn.

Bức ảnh đó được chọn làm biểu tượng cho nước Mỹ, bởi nước Mỹ chỉ xứng đáng được như thế; và những người sống trên đất nước này cũng chỉ học theo cách sống như chú vịt và chú thiên nga kia. Tuy nhiên, để được khung cảnh như bờ hồ, và cách sống như chú vịt và chú thiên nga kia thì khắp năm châu không phải ở đâu cũng có được.

TRẢ LỜI CHO VIỆC DI DÂN VAO MỸ CỦA ĐẢNG VIÊN ĐẢNG CỘNG SẢN


Lần trước, có một bạn hỏi tôi xem đảng viên đảng cộng sản có ảnh hưởng gì đến việc xin visa di dân vào Mỹ không??? Tôi trả lời có vì trong phần 2 của mẫu DS-230:

Phần 2, có câu 30 c hỏi đương đơn có phải là đảng viên đảng cộng sản hay không. Những ai trả lời Yes ở câu 30c hay ở các câu khác của câu hỏi 30 có thể không được cấp visa.


Mới đây, người bạn của tôi có cô chị họ ở VN đã lập gia đình đi phỏng vấn diện F3 (con đã lập gia đình của công dân Mỹ). Mẹ cô ấy là công dân Mỹ nộp đơn bảo lãnh cô ấy năm 2000. Chồng cô ấy là đảng viên Đảng cộng sản khoảng 8 năm, cho đến năm 2004 thì ngưng.

Sau khi phỏng vấn cô ấy và chồng, bổ sung giấy tờ liên quan đến điều lệ của đảng cộng sản Việt Nam và việc ra khỏi đảng của người chồng, cô ấy và ba người con được cấp visa. Riêng chồng cô ấy bị từ chối visa chiếu theo điều khoản 212(a)(3)(D) mặc dù đã ra khỏi đảng trên hai năm. Họ nói cô ấy có thể bảo lãnh cho chồng sau khi qua đến Mỹ.



Sau đây là điều khoản 212(a)(3)(D)
Sec. 212. (8 U.S.C. 1182)

(a) Classes of Aliens Ineligible for Visas or Admission.-Except as otherwise provided in this Act, aliens who are inadmissible under the following paragraphs are ineligible to receive visas and ineligible to be admitted to the United States:

(3) Security and related grounds

(D) Immigrant membership in totalitarian party

(i) In general.-Any immigrant who is or has been a member of or affiliated with the Communist or any other totalitarian party (or subdivision or affiliate thereof), domestic or foreign, is inadmissible.

(ii) Exception for involuntary membership.- Clause (i) shall not apply to an alien because of membership or affiliation if the alien establishes to the satisfaction of the consular officer when applying for a visa (or to the satisfaction of the Attorney General when applying for admission) that the membership or affiliation is or was involuntary, or is or was solely when under 16 years of age, by operation of law, or for purposes of obtaining employment, food rations, or other essentials of living and whether necessary for such purposes.

(iii) Exception for past membership.-Clause (i) shall not apply to an alien because of membership or affiliation if the alien establishes to the satisfaction of the consular officer when applying for a visa (or to the satisfaction of the Attorney General when applying for admission) that-


(I) the membership or affiliation terminated at least-
(a) 2 years before the date of such application, or

(b) 5 years before the date of such application, in the case of an alien whose membership or affiliation was with the party controlling the government of a foreign state that is a totalitarian dictatorship as of such date, and


(II) the alien is not a threat to the security of the United States.

(iv) Exception for close family members.-The Attorney General may, in the Attorney General's discretion, waive the application of clause (i) in the case of an immigrant who is the parent, spouse, son, daughter, brother, or sister of a citizen of the United States or a spouse, son, or daughter of an alien lawfully admitted for permanent residence for humanitarian purposes, to assure family unity, or when it is otherwise in the public interest if the immigrant is not a threat to the security of the United States.


Dựa theo điều 212(a)(3)(D), những đương đơn ở trong đảng cộng sản hay đảng độc tài sẽ bị cấm di dân vào Mỹ ngoại trừ một trong những trường hợp sau đây:
- Đương đơn vào đảng do bị ép buộc, hay lúc dưới 16 tuổi theo luật, để có được việc làm, để có khẩu phần ăn, để có nhu yếu phẩm hay bất kỳ sự cần thiết nào khác cho nhu cầu sinh tồn.

- Đương đơn đã ra khỏi đảng tối thiếu là 2 năm tính cho đến lúc làm đơn xin visa di dân. Tuy nhiên, nếu là một đảng độc tài đang nắm quyền cai trị, như trường hợp đảng cộng sản Trung Quốc hay Việt Nam, thì đương đơn phải ra khỏi đảng ít nhất là 5 năm.


- Đương đơn không là mối đe dọa cho Hoa Kỳ.

- Đương đơn có thể hưởng khoan hồng vì lý do nhân đạo trong trường hợp đương đơn là cha mẹ, con cái hay anh chị em của công dân Mỹ hoặc đương đơn là người phối ngẫu hay con cái của người được nhận thường trú vào Mỹ vì lý do nhân đạo trong bối cảnh đoàn tụ gia đình.


Phần cuối này chỉ có thể áp dụng cho cô ấy nếu cô ấy là đảng viên cộng sản. Cô ấy có thể được khoan hồng do là con của công dân Mỹ, nhưng chồng của cô ấy thì không áp dụng được.

Theo nhân viên lãnh sự, trong trường hợp của cô ấy, vì chồng cô ấy không phải là người được bảo lãnh chính do công dân Hoa Kỳ đứng ra bảo lãnh nên không thể áp dụng phần cuối này. Do đó, cô ấy chỉ có thể giúp chồng sang Mỹ bằng cách nộp đơn I-130 bảo lãnh cho chồng sau khi cô ấy qua đến Mỹ.

TRẢ LỜI VỀ VIỆC THƯỜNG TRÚ NHÂN BỊ BẠO HÀNH




Hôm qua chat với 1 cô bạn có người lấy chồng VK bị bạo hành, dù chỉ biết cô ta qua internet nhưng tôi vô cùng bức xúc Tôi thỉnh thoảng vẫn đọc được trên các bài báo một số người bị người phối ngẫu hành hung hay ngược đãi. Lý do họ cam chịu đó là:

Do họ là những người qua Mỹ diện hôn thê/hôn phu hoặc diện người phối ngẫu mà thời gian hôn nhân dưới hai năm, nên họ chỉ có thẻ xanh. Khi bị người phối ngẫu hành hung hay ngược đãi, họ không biết phải làm gì vì sợ bị đuổi về Việt Nam nếu chấm dứt quan hệ với người phối ngẫu của mình.


Nếu bị người phối ngẫu hành hung hay ngược đãi, các bạn có thể liên lạc với National Domestic Violence Hotline ở ố 1-800-799-7233
hay ở số 1-800-787-3224 để được giúp đỡ về phương diện nơi ăn chốn ở tạm thời và về phương diện pháp luật.

Bạn cũng có thể vào trang Web
 http://www.womenslaw.org/laws_state_typ ... te_code=US
để tìm tổ chức địa chỉ của những tổ chức bênh vực người phối ngẫu bị hành hung hay ngược đãi nơi bạn cư trú.


Nếu người phối ngẫu của bạn tiến hành thủ tục ly hôn nhằm trục xuất bạn về Việt Nam hay nếu bạn nộp đơn xin ly hôn vì lý do bạo hành hay ngược đãi, bạn cần thâu thập những bằng chứng rằng cuộc hôn nhân của bạn là thật.

Ngay sau khi có bản án ly hôn, bạn cần phải tự nộp đơn I-751 ngay để xin hủy bỏ điều kiện thường trú hầu có thẻ xanh chính thức 10 năm. Bạn không cần phải đợi đến thời gian 90 ngày trước khi hết hạn thẻ xanh tạm thời.

Ngoài ra, nếu đến thời gian 90 ngày trước khi hết hạn thẻ xanh tạm thời, bạn tự nộp đơn I-751 trong lúc hai người đang ly thân hay còn đang trong thời gian chờ tòa giải quyết vụ ly hôn, Sở Nhập tịch và Di trú Hoa Kỳ (USCIS) sẽ gửi cho bạn Request for Evidencd (RFE), tạm dịch là Yêu cầu bổ sung thông tin, cho bạn thời gian 87 ngày để nộp cho họ quyết định ly hôn của tòa. Trong thời hạn 87 ngày, nếu bạn không thể nộp quyết định ly hôn của tòa, USCIS sẽ gửi thông báo chấm dứt tình trạng thường trú tạm thời của bạn và cho bạn hay rằng bạn sẽ phải chứng minh đủ điều kiện để tự nộp đơn I-751 trước quan tòa về di trú trong phiên xử trục xuất. Bạn sẽ nhận được thông báo ra hầu tòa.

Ngoài ra, chiếu theo luật Violence Against Women Act chấp thuận năm 1994 bạn có thể nộp đơn I-360 để tự xin thường trú trong thời gian hai năm sau ngày ly hôn. Bạn cũng có thể nộp đơn I-360 mà không cần chờ đến thời gian 90 ngày hết hạn thẻ xanh tạm thời hay không cần ly hôn. Điều này có nghĩa là bạn có thể nộp đơn I-360 bất cứ lúc nào khi bị người phối ngẫu hành hung hay ngược đãi.

Đơn I-360 phải gửi bảo đàm cho Vermont Service Center cùng những bằng chứng về hôn nhân thật và về việc bạo hành trong gia đình. Bạn phải giữ lại bằng chứng gửi thư bảo đảm và bản sao của tất cả những gì mà bạn gửi kèm theo đơn I-360.

Những bằng chứng về sự bạo hành hay ngược đãi gồm có: giấy báo cáo của cảnh sát, giấy nhà thương, lệnh che chở (Restraint Order, còn gọi là Protection Order) cấp bởi tòa án hình sự hay tòa án gia đình nơi mà bạn nộp đơn chống lại người phối ngẫu của bạn. Trong nhiều trường hợp, thư chứng nhận của bạn bè hay người thân của bạn đủ để bạn thành công trong việc nộp đơn I-360. Bạn cũng cần thêm những bằng chứng để chứng minh rằng bạn là người có hạnh kiểm tốt, bạn đã kết hôn một cách chân thật và bạn sẽ bị thiệt hại nếu phải trở về nước.

Sự khác biệt giữa đơn I-360 và I-751 nằm ở điểm là bạn phải có qui chế thường trú nhân tạm thời thì bạn mới nộp đơn I-751 được trong khi đơn I-360 có thể được nộp bởi bất cứ người nào, dù chưa có thẻ xanh tạm thời.

Ở đây, cũng xin nói thêm là một người đã phỏng vấn thành công và đã có qui chế thường trú nhân tạm thời có thể nộp đơn I-751 dù chưa nhận được thẻ xanh. Một sự khác biệt khác giữa đơn I-751 và I-360 là trách nhiệm nêu rõ bằng chứng hơi khác nhau và đương đơn I-360 chưa qua cuộc phỏng vấn để có thẻ xanh tạm thời. Cuối cùng, đơn I-751 nếu được chấp thuận cho phép bạn trở thành thường trú nhân chính thức trong khi đơn I-360 nếu được chấp thuận cho phép bạn nộp đơn xin trở thành thường trú nhân chính thức trong thời gian một năm sau ngày đơn I-360 được chấp thuận.

Tôi cũng đã khuyên cô bạn tôi như vậy và mong cô sẽ sớm trở lại với cuộc sống bình thường

HOA KỲ - VỰC THẲM NGÂN SÁCH



Hoa Kỳ mất hai năm và sáu tỷ Mỹ kim cho cuộc tổng tuyển cử 2012 để bầu lại một hệ thống lãnh đạo đã từng gây ra ách tắc chính trị từ năm 2010. Đảng Dân Chủ kiểm soát Hành pháp và Thượng viện, đảng Cộng Hoà giữ đa số tại Hạ viện và 30 chức vụ Thống đốc tiểu bang. Tình trạng chính trị lưỡng cực ấy không giải quyết được bài toán ngân sách trong hai năm qua và nay lại hai đảng lại tái đấu về chi thu trước sự phân vân của dân chúng và hoài nghi của thị trường.



Nói về bối cảnh, Hoa Kỳ đã qua ba chục năm chi tiêu hào phóng và vay mượn quá sức nên đến hồi trả nợ kể từ năm 2007. Đấy là bối cảnh chung và có nguyên nhân "lưỡng đảng" lẫn công tư.

Cả chính quyền lẫn tư nhân (các hộ gia đình và doanh nghiệp) đều đi vay trong mấy thập niên và nay phải cắt giảm chi tiêu để trả nợ. Sự chuyển động chậm rãi ấy mới giải thích những hoạn nạn của năm năm qua khi kinh tế bị suy trầm từ cuối năm 2007 rồi bị nhồi trong cuộc khủng hoảng tài chánh năm 2008.

 Các chính khách mị dân thường quy tội cho Chính quyền George W. Bush là gây ra khủng hoảng vì tăng chi bừa phứa và mở ra hai cuộc chiến – Afghanistan và Iraq – mà không tăng thuế và còn đồng loạt cắt giảm tô suất thuế qua hai đợt 2001 và 2003.

Sự thật lại không đơn giản như vậy. Sự thật là nước Mỹ đến hồi trả nợ, không khác gì hoàn cảnh của hai khối kinh tế công nghiệp hóa kia là Âu Châu và Nhật Bản. Cho nên các biện pháp kích thích kinh tế cổ điển như qua ngân sách (tăng chi và giảm thuế) và tiền tệ (hạ lãi suất và bơm tiền) đều chậm có hiệu quả.

Trong khung cảnh đó, sau khi thắng cử năm 2008, Chính quyền Obama còn tăng chi và muốn cải tạo xã hội nên nâng bội chi ngân sách lên mức kỷ lục, mỗi năm ngàn tỷ đô la trong bốn năm liền.

Khi ngân sách bị bội chi thì chính quyền phải đi vay nên khoản công trái - nợ của khu vực công quyền – đã cao bằng Tổng sản lượng quốc gia GDP, hãy tính cho tròn là 15 ngàn tỷ. Trong khi ấy, kinh tế chưa phục hồi và thất nghiệp vẫn mấp mé 8% và con số khiếm dụng thực sự (thất nghiệp toàn thời và bán thời) còn cao gấp đôi.

Bối cảnh ấy giải thích bài toán lưỡng nan hiện nay là phải kích thích sản xuất để giảm trừ thất nghiệp và đồng thời tiết giảm công chi để dần dần quân bình lại ngân sách.




Quốc hội khóa 112 được bầu lên từ năm 2010 đã có một thay đổi là đảng Cộng Hoà chiếm lại đa số tại Hạ viện nên đòi giới hạn công chi để giảm dần bội chi ngân sách trong 10 năm tới. Nếu không, Quốc hội không cho phép chính quyền đi vay thêm.


Đảng Dân Chủ đồng ý trên nguyên tắc là phải giảm chi, nhưng vẫn muốn bảo vệ thành quả cải tạo xã hội đã thu được từ năm 2006 và chú trọng nhiều hơn đến việc tăng thuế. Họ nhấn mạnh tới yếu tố mang tính chất đấu tranh giai cấp, và ăn khách, là phải tăng thuế nhà giàu.

Suốt năm 2011, trận đánh về ngân sách giữa hai hướng giảm chi và tăng thuế đã không ngã ngũ và đôi bên đành đồng ý với một giải pháp tạm, do một siêu ủy ban của hai đảng đề nghị và được Tổng thống Obama ban hành ngày mùng hai Tháng Tám: cho phép nâng cao định mức đi vay, nhưng hai đảng phải thỏa thuận về một kế hoạch chấn chỉnh chi thu trong 10 năm tới.


Nếu không, một số quyết định sẽ được tự động ban hành từ đầu năm 2013: mặc nhiên cắt giảm công chi và thu hồi các biện pháp giảm thuế của Chính quyền Bush (năm 2001 và 2003) và Chính quyền Obama (năm 2009). Chấm dứt việc giảm thuế có nghĩa là trở lại thuế suất cao hơn, vào trước năm 2001, tức là tăng thuế.

Trong suốt năm 2012, đôi bên không đạt thỏa thuận về việc chấn chỉnh này nên kể từ mùng hai Tháng Giêng năm 2013, biện pháp tự động sẽ được áp dụng, làm kinh tế gánh thêm nợ vì thuế và hụt mất một số mục chi tổng cộng khoảng 500 tỷ trong số bội chi ngàn tỷ.


 Khi sản xuất còn èo uột, ở mức 2% một năm là mừng, nếu biện pháp tăng thuế và giảm chi đó được áp dụng, Tổng sản lượng 15 ngàn tỷ sẽ hao hụt và kinh tế có thể bị suy trầm mất chừng 12-15 tháng, bốn năm quý.

Vì vậy, người ta mới nói đến "vực thẳm ngân sách" hay "tận thế thuế vụ" Taxmageddon.



Các kinh tế gia tranh luận về hiệu ứng của việc cắt giảm 500 tỷ - hay ít hơn nếu đôi bên tiến tới một số thỏa thuận là giảm bao nhiêu và tăng thuế ngần nào, cho những ai - đối với sinh hoạt kinh tế. Hiệu ứng đó có thể là một cấp số nhân, từ 1 đến 1,7 tùy cách tính, nếu ngân sách giảm một vì tăng thuế hay giảm chi, tổng sản lượng có thể giảm từ một đến 1,7 lần.... Tức là bị suy trầm.

Sự thật là kinh tế có thể lại trôi vào suy trầm nữa, sau vụ suy trầm lần trước từ Tháng 12 năm 2007 đến Tháng Bảy năm 2009, nhưng sau đó tình hình sẽ khả quan dần vì việc chấn chỉnh chi thu này là một nhu cầu thực tế. Đây là một nhận định của cơ quan độc lập có nhiệm vụ nghiên cứu ngân sách cho Quốc hội là CBO qua phúc trình mới nhất, được công bố hôm mùng tám Tháng 11.

Nhưng các chính khách đều ngại một vụ suy trầm nữa vào năm 2013 sẽ ảnh hưởng đến cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ vào năm 2014. Họ bèn đổ lỗi cho nhau, cũng với lập luận mị dân của một cuộc tranh cử ngay sau khi vừa hoàn tất tổng tuyển cử. Truyền thông đại chúng của Mỹ thì chỉ nhắc lại các lập luận đó theo thiên kiến chính trị riêng và đa số dân chúng không rõ vì sao lại có "vực thẳm ngân sách".

Cũng theo truyền thống, đảng Dân Chủ rất khéo tuyên truyền còn đảng Cộng Hoà thì chẳng biết giải thích cho rõ tình hình thực tế của một siêu cường mắc nợ. Kết quả bầu cử vừa qua có cho thấy sự khác biệt đó giữa hai đảng. Và lần này, đảng Cộng Hoà có thể lại mắc bẫy nữa khi mà tuần qua Hành pháp và Thượng viện Dân Chủ không hề nhượng bộ và còn đề nghị tăng thuế gần 1.600 tỷ, tăng chi thêm 50 tỷ và không đặt ra định mức đi vay cho Quốc hội và yêu cầu đảng Cộng Hoà phải hòa giải.

Nhưng căn bệnh chi thu vẫn còn nguyên vẹn và cần một liều thuốc đắng. Chúng ta cần hiểu ra điều đó.



Từ ba chục năm nay, dân Mỹ đã chi tiêu và vay mượn quá sức, ngày một nhiều hơn cho đến năm 2007 mới thấy bàng hoàng. Tổng số nợ đủ loại của các hộ gia đình đã tăng vọt trong suốt 30 năm. Từ một ngàn 500 tỷ đô la vào năm 1980, khoản nợ này nhân gấp đôi trong 10 năm (ba ngàn tỷ, tức là mỗi năm tăng 7%), rồi gấp sáu trong 10 năm kế tiếp (chín ngàn tỷ vào năm 2001) trước khi lên tới đỉnh là hơn 13 ngàn tỷ vào năm 2007. 

Đây là một nỗ lực vay mượn chẳng phải là lưỡng đảng mà của toàn dân! Nhờ lãi suất hạ, tiền rẻ và đi vay dễ dàng, kể cả vay mượn ngoại quốc, nước Mỹ hồn nhiên tiêu xài quá mức, thổi lên bong bóng đầu tư về cổ phiếu (2000) rồi địa ốc (2005) và bắt đầu phải trả nợ.

Khi cần tiết giảm chi tiêu để trả nợ thì tài hóa bớt lưu thông và kinh tế bị suy trầm, đó là hoàn cảnh của vụ Tổng suy trầm 2008-2009. Mặc dù như vậy, tính đến quý hai năm nay, khoản nợ của các hộ gia đình vẫn ở mức 12 ngàn 900 tỷ đô la, so với 15 ngàn tỷ của Tổng sản lượng.

Yếu tố quan trọng nhất, gần như thuộc về văn hoá, là kinh tế Hoa Kỳ lệ thuộc vào tiêu thụ. Nửa thế kỷ trước, tiêu thụ ở khoảng 62% của Tổng sản lượng GDP, ngày nay mức lệ thuộc đó là 71%. Trong bước ngoặt của việc tư nhân giảm chi để trả nợ sau 30 năm hồ hởi, nhà nước bèn bù vào số hao hụt bằng biện pháp tăng chi kỷ lục và mắc nợ ngập đầu, số nợ tích lũy trong nhiệm kỳ đầu của Tổng thống Obama cao bằng tổng số nợ của tất cả các Tổng thống tiền nhiệm kể từ George Washington. 

Mà vẫn không kích thích được sinh hoạt sản xuất.

Khi nâng mức công chi đến ngàn tỷ một năm thì khu vực công quyền đã chẳng giải quyết được bài toán sản xuất và thất nghiệp mà chỉ nâng mức công trái và sẽ phải trả tiền lời, nghĩa là chỉ đi vay để đắp nợ. Bế tắc của biện pháp kích cầu bằng tăng chi ngân sách khiến Ngân hàng Trung ương đã hạ lãi suất tới số không và ba lần in bạc bơm tiền vào kinh tế - mà chưa thấy hiệu quả.

Chỉ vì cùng với nỗ lực tăng chi để kích cầu, Chính quyền Obama còn tiến hành cải tạo xã hội và mở rộng việc điều tiết và kiểm soát thị trường với rất nhiều luật lệ mới.

Tình trạng đó gây khó khăn và bất trắc cho doanh nghiệp khiến các cơ sở kinh doanh lớn nhỏ đều có sẵn hiện kim, tiền mặt, và hơn ngàn tỷ chứ không ít, mà vẫn ngần ngại đầu tư. Nạn ách tắc chính trị trong Quốc hội hai đầu chẳng giúp gì thêm cho tâm lý e ngại đó. Tinh thần đấu tranh giai cấp và kết tội tham lam cho những ai có tiền đầu tư – bọn nhà giàu đáng ghét – càng khiến doanh gia ngồi trên núi bạc chờ thời. Ách tắc chính trị dẫn đến bế tắc kinh tế.



Giải pháp được gọi là vực thẳm ngân sách - một từ do Thống đốc Ngân hàng Trung ương Ben Bernanke nghĩ ra và nói tới - gồm có hai phần chua ngọt. Chua là biện pháp mặc nhiên cắt giảm công chi và ngọt là việc tăng thuế nhà giàu. Hãy nói đến thực đơn chua ngọt đó.

Khi bội chi ngân sách được giảm dần, chính quyền sẽ bớt đi vay và tài nguyên dành cho việc vay mượn đó qua công khố phiếu có thể được giành lại cho sản xuất. Trước mắt là giảm dần khoản tiền lời mà công khố phải trang trải một cách đều đặn khi đi vay. Đấy là quyết định hợp lý của siêu ủy ban năm 2011 khi đề ra biện pháp tự động giảm chi, gọi là "sequestration". Nó hợp lý vì thị trường trái phiếu không tiếp tục cho nhà nước vay với lãi suất rất rẻ như vậy trong khi nước Mỹ cứ mấp mé vỡ nợ. Có ngày họ sẽ đòi phân lời trái phiếu cao hơn thì công quỹ sẽ phá sản. Đây là ta chưa nói đến một vực thẳm còn sâu hơn nữa là quỹ an sinh và y tế - xin để kỳ khác.

Nhưng giảm chi là quyết định hợp lý mà không hợp tình vì nhiều người sợ rằng khoản phúc lợi xã hội của họ sẽ bị cắt. Họ dồn phiếu cho đảng Dân Chủ, một đảng có tiếng là thương dân nghèo và bảo vệ thành quả cải tạo xã hội, và họ gây áp lực để tăng thuế nhà giàu. Áp lực này là một lý luận hợp tình.

Thiếu số 1% những người có lợi tức cao nhất (lợi tức chứ không phải tài sản), đã thấy lợi tức trung bình của họ tăng hơn 90% trong các năm sau vụ Tổng suy trầm 2008-2009. So với trung bình ở khoảng 50% trước đó (từ 1993 đến 2009) thì đấy là bước nhảy vọt gấp đôi trong khi lợi tức của người dân nói chung đều giảm. Cho nên, nếu các triệu phú có chịu thêm một gánh nặng thuế khóa thì cũng hợp tình!

Nhưng chuyện ấy lại không hợp lý vì có thể gây phản tác dụng cho kinh tế.

Sản lượng kinh tế quốc gia chỉ có thể tăng nhờ dân số lao động cộng với mức gia tăng năng suất. Nôm na là nhiều người làm việc hơn, với hiệu năng cao hơn thì sẽ sản xuất ra nhiều của cải hơn. Khi các chính khách nói đến chuyện tạo thêm việc làm để giải quyết nạn thất nghiệp, là nâng cao dân số lao động, thì đấy là dân số lao động trên thị trường tư doanh. Chứ lực lượng công chức là thành phần đóng góp rất ít cho sản xuất và lợi tức của họ chỉ là tiền thuế của dân.

Mà khu vực tư doanh đang chờ thời và ngần ngại đầu tư nên sản lượng kinh tế không tăng và thất nghiệp cũng chẳng giảm. Số việc làm trong khu vực tư chỉ tăng khi mà có ai đó muốn cung cấp loại hàng hóa và dịch vụ mà thị trường chịu mua. Muốn như vậy thì phải có đầu tư và đầu tư vào những ngành có năng suất cao hơn trước thì mới có lời.

Các nhà giàu triệu phú tiêu biểu là thành phần có khả năng đầu tư như vậy.

Hãy cho rằng họ có lợi tức bạc triệu trong một năm và dự trù mất 40% vì trả đủ loại thuế. Họ còn lại 600 ngàn cho hai nhu cầu:

 1) chi tiêu để duy trì mức sống sa hoa đáng ghét

 2) đầu tư hay tiết kiệm cho tương lai. Nếu thuế suất mà tăng, giả dụ thêm 5%, họ sẽ bớt ít ra cũng khoảng 5% các mục chi dụng phù phiếm, là tiêu xài ít hơn và đánh sụt số cầu trên thị trường. Giải pháp kia là giảm mức đầu tư hoặc tiết kiệm, thí dụ như cũng với mức 5%.

Ai sẽ được cái khoản "mất" giả dụ là 5% này? Nhà nước. Và được như vậy để làm gì? Tăng lương công chức hay mức trợ cấp cho dân nghèo? Ngược lại, phần tiết giảm 5% vì gánh nặng thuế khóa sẽ ảnh hưởng thế nào đến sinh hoạt kinh tế? Những câu hỏi thường thức ấy cho thấy quyết định tăng thuế CŨNG có hậu quả kinh tế chứ không hẳn là vô hại.

Hậu quả đầu tiên là gây thêm tâm lý bất an trong một xã hội xưa nay vẫn quý trọng những người dám lấy rủi ro để kinh doanh và làm giầu. Ngày nay, làm giầu có thể là cái tội rất đáng gọt đầu.

Trong khi ấy, nếu nhìn vào thống kê về ngân sách từ mấy năm qua, nguồn thu về thuế lợi tức đã tăng trong thực tế dù với tô suất thấp: nghĩa không phải quyết định hạ thấp thuế suất đã làm giảm số thu ngân sách và tăng mức bội chi. Ngân sách bị thiếu hụt vì tăng chi quá nhiều và vì kinh tế sa sút đã thu hẹp căn bản tính thuế.

Do đó, nhìn xa hơn vực thẳm ngân sách năm tới, người ta thấy ra một hố sâu văn hóa của nước Mỹ về chuyện làm giầu. Đó là công hay tội? Còn gánh nợ lưu cữu từ ba chục năm nay, ai sẽ trả? Thế hệ con cháu sau này? Chúng có biết không?

Tương lai đó nó vượt xa tầm nhìn của các chính khách vì hai năm tới đây họ sẽ lại phải xin phiếu của dân. Lấy tiền của nhà giàu để mua phiếu của dân nghèo là một giải pháp chính trị hấp dẫn. Nhưng không là giải pháp kinh tế đã làm nên sức mạnh của Hoa Kỳ.